Việt Nam phong tục: Phong tục tập quán của người Việt
Nữ Bác Học Marie Curie

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:37' 11-09-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 4
Người gửi: Quách Thị Lành (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:37' 11-09-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
1 người
(Đỗ Thuỳ Linh)
Mục Lục
LỜI TÁC GIẢ
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXII
CHƯƠNG XXIII
CHƯƠNG XXIV
CHƯƠNG XXV
CHƯƠNG XXVI
CHƯƠNG XXVII
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
LỜI GIỚI THIỆU
Trong những nhà bác học lớn của thế kỷ 20, thế kỷ của vật lý học, có
một hình ảnh sáng ngời rất đỗi gần gũi chúng ta. Đó là Ma-ri Qui-ri, nữ bác
học ngừơi Ba Lan, mà tên tuổi cùng với chồng là nhà vật lý Pháp Pi-e Qui-ri,
gắn liền với một giai đoạn phát minh khoa học và phát triển kỹ thuật vô cùng
rạng rỡ trong lịch sử văn minh loài người.
Một khám phá đảo lộn cả nền triết học và vật lý của mấy thế kỷ
trước, là ánh bình minh của thời đại nguyên tử, trong điều kiện nghiên cứu
thô sơ, tạm bợ “bốn năm ở một nhà xe” nghe như chuyện thần tiên lại do
một phụ nữ rụt rè, thầm lặng, tính tình nếp sống chẳng khác gì chị em lao
động bình dị, chất phác, nhưng tâm hồn, tư tưởng có tầm vóc thời đại.
Cuối thế kỷ 19, nước Ba Lan còn bị vùi dập dưới ách phong kiến phụ
thuộc. Do tư tưởng trọng năm khinh nữ, thời đó phụ nữ không được vào Đại
học, Ma-ri-a Xkhua-dốp-xka, con một gia đình nhà giáo yêu nước bị chèn
ép, đã không chịu sống trói buộc, thấp hèn, ra sức học hỏi tích luỹ kiến thức
với một lý tưởng quán xuyến cả cuộc đời say mê khoa học.
Em bé chưa đầy mười hai tuổi mồ côi mẹ, thời thơ ấu bị đau thương
đè nén, càng yêu quê hương đất nước, yêu từ tiếng nói đến lịch sử dân tộc.
Đang học trung học, mặc dầu bị cấm đoán Ma-ri-a Xkhua-dôp-xka vẫn lén
lút tìm dự các buổi “Đại học di động”. Say sưa với những luồng tư tưởng
tiến bộ hướng về tầng lớp lao động.
Cô gái mười bảy, hiếu thảo tận tình, muốn giúp chị có tiền ra học
nước ngoài, đỡ đần cha và dành dụm thêm cho mình, đã đi tỉnh xa dạy tư
tám năm ròng rã, gần gũi con em nông dân với một lòng yêu chân thành. Tha
thiết khêu gợi cho các em thấy vẻ đẹp của tiếng nói mẹ đẻ và lịch sử đất
nước Ba Lan. Cô tìm thấy ở các em “niềm vui lớn và nguồn an ủi chính” của
mình, ở địa phương hẻo lánh, không người hướng dẫn, cô vẫn tự mình cố
gắng học thêm.
Cô nữ sinh viên 25 tuổi, miệt mài sách vở, kham khổ ba năm để
giành hai bằng cử nhân toán lý, đỗ nhất và nhì đồng thời trang bị cho mình
một vốn kiến thức khoa học cơ bản vững chắc. Khi tốt nghiệp xong, cô đã
hoàn lại học bổng mình nhận trước kia, để số tiền này lại có thể giúp một
bạn học nghèp khác.
Người mẹ hai con vẫn thi thạc sĩ đỗ đầu, lại chuẩn bị thi tiến sĩ. Bốn
mươi lăm tháng trời vất vả, nghiên cứu các chất phóng xạ, cùng chồng tìm ra
hai kim loại mới, và cả phương thức khai thác. Một thành công kỳ diệu đã
đem lại cho hai vợ chồng giải Noben vật lý 1903, chung với một nhà bác học
nổi tiếng đương thời.
Người quả phụ 38 tuổi, trong bước thảm khốc của đời mình đã nén
đau thương, tần tảo lao động nuôi con và chăm sóc bố chồng già, lại đảm
đương trọng trách thay chồng một cách xuất sắc, tiếp tục nghiên cứu, phát
minh, đặt nền móng cho một khoa học và một công nghiệp mới, giật thêm
một Noben về hoá học. Có thể cho con cái một gia tài lớn, nhưng bà đã đem
lại cho nhà nước Pháp mảnh kim loại trị giá một triệu “francs” và đem tiền
thưởng Noben cùng trang sức của mình chuyển thành quốc trái, với ý nghĩ
đơn giản mà cao đẹp: “con cái nó phải tự kiếm sống là điều lành mạnh tất
nhiên”. dạy dỗ con gái thành tài, sau này cũng nối nghiệp mẹ và cũng được
giải Noben (1934).
Nữ bác học nổi tiếng vẫn giữ bản chất tốt đẹp của một người lao
động, cần mẫn, giản dị, không hay nói đến mình, không thích tiền tài, danh
vọng, chỉ say sưa nghiên cứu, chỉ muốn làm việc và cống hiến. Trong chếin
tranh, ra tiền tuyến với chiếc xe điện quang tự thiết kế, bà lăn lộn khắp chiến
trường cứu chữa thương binh, như một chiến sĩ, chẳng nề hà gian khổ, chẳng
đòi hỏi đối xử riêng biệt. Nhìn rõ trách nhiệm của người trí thức “không thể
đứng trên cuộc chiến đấu và sẽ phản lại sứ mệnh của mình, nếu không kiên
trì bảo vệ văn minh và tự do tư tưởng”. Chính nhờ đi vào thực tế cuộc sống
chiến đấu mà bà đã có thêm nhiều thành tựu độc đáo về khoa học ứng dụng
và kỹ thuật thực hành. Như đã thấy được đây là cả một sự nghiệp quần
chúng, bà đã đào tạo hàng trăm người làm công tác khoa học kỹ thuật là con
em nhân dân lao động cho yêu cầu thời chiến. Càng tha thiết đến tiền đồ
khoa học, bà càng quan tâm đến “những tài năng chưa phát triển, trong
những tầng lớp xã hội ít được nâng đỡ” vì “một nông dân, một công dân, biết
đâu chẳng là mầm mống một nhà văn, nhà bác học, hoạ sĩ?”
Nhà tri thức chân chính và từng trải đã thành một người có tài tổ
chức và cổ vũ, ra sức vun đắp thế hệ trẻ với lòng hy sinh cao cả, vừa chỉ đạo
chuyện môn, vừa hoạt động xã hội “chú trọng phát triển các học bổng quốc
tế về nghiên cứu khoa học, đấu tranh cho một nền văn hoá quốc tế vẫn tôn
trọng các nền văn hoá dân tộc, bảo vệ nhân cách và tài năng bất cứ nơi đâu,
củng cố sức mạnh tinh thần lớn lao của khoa học trên thế giới”.
Qua hình ảnh Ma-ri, người phụ nữ Ba Lan giàu tình cảm ước mơ,
nhưng còn giàu nghị lực và ý chí hơn nữa, luôn luôn cưỡng lại số phận tàn
khốc, vươn lên làm tròn nhiệm vụ mà cuộc sống và lịch sử đặt cho mình,
ngay cả lúc đau khổ nhất, hàng vạn chị em phụ nữ Việt Nam có thể tìm thấy
những nét về thời tuổi trẻ và đời sống tình cảm của mình, của những con
người dũng cảm, bất khuất, trung hậu, đảm đang trên hai miền đất nước. Và
kiều bào ta trên thế giới bấy lâu da diết nhớ quê cha đất tổ giờ đây thông cảm
hơn bao giờ hết với người trí thức Ba Lan bốn chục năm xa quê hương vẫn
không quên được tiếng mẹ đẻ và dòng sông Vit-xtuyn, vẫn tha thiết với vận
mệnh và tiền đồ tổ quốc Ba Lan, đã tìm cách tặng thủ đô Vác-xô-vi của lòng
mình một viện Ra-đi-om, để đền đáp ơn nghĩa chôn nhau cắt rốn vì đã gửi
gấm cả cuộc đời hoạt động khoa học trên đất nước người.
Ngày nay trên đất nước đang lớn lên, có bao khó khăn, thử thách
chúng ta càng được khích lệ và tin tưởng khi nghĩ đến điều kiện làm việc rất
đỗi khó khăn mà lại thành công rực rỡ của Ma-ri Qui-ri. Chị em phụ nữ ta
đều có thể học tập những điều bổ ích ở cuộc đời và sự nghiệp của Ma-ri Quiri ở lòng say mê học hỏi nghiên cứu phát minh khoa học không vì tiếng hay
danh vọng và đức tính cần cù, nhẫn nại, giản dị, thanh liêm.
Học tập giờ đây đâu chỉ là nhu cầu cuộc sống mà còn là phẩm chất
đạo đức, là đấu tranh với thiên nhiên và bản thân khắc phục mọi trở ngại khó
khăn do dốt nát sinh ra, nâng cao mại trình độ tiếp thu và tích luỹ kiến thức
của dân tộc và thế giới nhằm giải quyết tốt đẹp mọi vấn đề đời sống con
người và xã hội, vì ngày mai hạnh phúc huy hoàng của nhân dân ta, dân tộc
ta, Tổ quốc ta.
Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn “Nữ bác học Ma-ri Qui-ri” do
con gái bà là E-vơ Qui-ri viết, nguyên bản tiếng Pháp đã được dịch ra 26 thứ
tiếng. Một tác phẩm sinh động chân thật về một phụ nữ đại tài, một nhà khoa
học chân chính .
Tháng 4 năm 1982
ĐÀO TRỌNG TỪ
MỤC LỤC
LỜI TÁC GIẢ
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXII
CHƯƠNG XXIII
CHƯƠNG XXIV
CHƯƠNG XXV
CHƯƠNG XXVI
CHƯƠNG XXVII
LỜI TÁC GIẢ
Cuộc đời của Ma-ri Qui-ri rất nhiều nét cao siêu đến nỗi người ta
muốn kể lại như một câu chuyện cổ tích.
*
* *
Một phụ nữ thuộc một dân tộc bị áp bức, nghèo và đẹp. Theo tiếng
gọi của một chí hướng mãnh liệt, bà rời tổ quốc Ba Lan của mình, đến Pa-ri
học, sống những năm cô đơn túng bách.
Bà gặp Pi-e Qui-ri, cùng một thiên tư hiếm có. Hai người lấy nhau.
Hạnh phúc của họ có một chất lượng duy nhất.
Qua nỗ lực kiên trì và vô vàn gian khổ, Ma-ri và Pi-e Qui-ri tìm ra
một chất màu nhiệm: đó là nguyên tố Ra-đi. Phát minh này không chỉ khai
sinh ra một khoa học mới và một triết học mới, nó còn mang đến cho loài
người cách điều trị một căn bệnh khủng khiếp.
Giữa lúc vinh quang của hai nhà bác học lan khắp thế giới, tai ương
đổ xuống đầu Ma-ri. Phút chốc, cái chết cướp đi của bà người bạn đời kì
diệu.
Đau khổ và bệnh hoạn không sờn lòng, bà tiếp tục công việc đang
tiến hành, phát triển một cách rực rỡ bộ môn khoa học do hai vợ chồng sáng
lập ra.
Cho đến cuối đời, Ma-ri Qui-ri chỉ biết có cống hiến. Với thương
binh, bà đã hiến dâng tất cả lòng tận tụy và sức khỏe của mình. Sau này bà
dành toàn bộ kiến thức và thì giờ cho những sinh viên từ khắp năm châu đến
học, được bà hết lòng khuyên răn, đào tạo thành những nhà bác học tương
lai.
Xong sự nghiệp, kiệt sức, bà từ giã cuộc đời sau khi đã khước từ phú
quý và dửng dưng với danh vọng.
*
* *
Câu chuyện không khác gì truyền thuyết này, tôi cảm thấy có tội lỗi
nếu đặt thêm vào dù chỉ là một điều trang trí nhỏ bé nhất. Mỗi giai đoạn
được kể ra đây đều đã xác minh chắc chắn, mỗi lời chủ yếu là trung thực, cả
đến màu sắc một chiếc áo. Sự việc đã xảy ra, lời lẽ được nói ra đúng như
vậy.
Họ hàng bên mẹ tôi ở Ba Lan, nhất là dì ruột tôi là bà Du-xki, người
chị thân thiết của mẹ tôi, đã cung cấp cho tôi những lá thư quý giá, và những
kỷ niệm sống về tuổi niên thiếu của nhà nữ bác học. Viết về cuối đời của
Ma-ri Qui-ri, tôi đã dựa vào giấy tờ riêng cùng những ghi chép vắn tắt của bà
và những câu chuyện và thư từ của bạn bè người Pháp và người Ba Lan,
những ký ức của chị tôi là I-ren Giô-li-ô Qui-ri và anh rể tôi là Phơ-rê-đêrich Giô-li-ô.
Mong rằng bạn đọc, qua những diễn biến nhất thời của một quãng
đời, nhận rõ điều mà ở bà Qui-ri còn quý hơn cả sự nghiệp và cuộc sống nên
tranh của bà: đó là tính kiên định, sự nỗ lực kiên trì, tất thắng của trí tuệ,
lòng hy sinh của một con người đã biết cho tất cả mà không biết lấy một thứ
gì, thậm chí nhận một thứ gì. Và sau cùng là tâm hồn mà không có gì – thành
công xuất sắc hay hoạn nạn – làm vẩn đục được tính trong trắng tột bực.
Chính do tâm hồn như vậy mà Ma-ri Qui-ri đã không chút ngần ngại
gạt xa những thuận lợi mà danh vọng vẫn đem lại cho những thiên tài chân
chính.
Bà đã phải đau khổ vì thế giới đương thời cứ muốn bà đóng vai một
nhân vật tiếng tăm. Con người vốn nghiêm khắc với mình và sống nhiều về
nội tâm, đã không thể chọn thái độ thường đi đôi với danh vọng: thân mật,
hòa nhã một cách máy móc, nghiêm nghị cố ý, khiêm tốn bề mặt.
Ma-ri Qui-ri không biết kiểu cách cư xử của những người danh tiếng.
*
* *
Tôi sinh ra khi mẹ tôi đã 37 tuổi. Lớn lên, đủ trí khôn nhận xét, tôi
thấy bà Qui-ri đã là một phụ nữ có tuổi, lừng lẫy. Thế nhưng chính “nhà bác
học nổi tiếng” lại xa lạ với tôi hơn cả có lẽ vì Ma-ri Qui-ri không hề bận tâm
với ý nghĩ rằng mình có danh vọng. Và tôi luôn luôn cảm thấy như vẫn sống
với một nữ sinh viên nghèo dạt dào ước vọng tên là Ma-ri-a Xkhua-đốp-xka,
từ rất lâu trước khi tôi ra đời.
Cho đến lúc thở hơi cuối cùng, Ma-ri vẫn giống người con gái đó.
Một sự nghiệp lâu dài, vất vả, sáng chói đã không làm cho bà lớn hơn hoặc
thấp kém, hóa thần thánh hoặc sa đọa. Và đến ngày cuối cùng, vẫn một vẻ
dịu hiền, bướng bỉnh, dút dát và ham hiểu biết như thuở hàn vi.
Đối với một con người như vậy, lúc chết, giá có được nghi lễ linh đình,
theo kiểu mà các chính phủ thường dành cho các vĩ nhân của họ thật là một
điều phạm thánh, bất kính. Bà được an táng giản dị, lặng lẽ tại một nghĩa
[1]
trang thôn quê , giữa hoa lá đồng nội, dường như cuộc sống vừa chấm dứt
cũng bình dị như trăm nghìn cuộc sống khác…
*
* *
Ước gì tôi có khiếu viết văn để miêu tả người nữ sinh muôn thuở mà
nhà bác học Anh-xtanh đã nói:
“Trong tất cả những danh nhân, bà Qui-ri là người duy nhất không bị
vinh quang làm cho hư hỏng”.
Bà đã bước trên đường đời như một người ngoài cuộc, nguyên vẹn,
hồn nhiên, gần như dửng dưng với số phận lạ lùng của mình.
E-VƠ QUI-RI
PHẦN THỨ NHẤT
CHƯƠNG I
“AN-CHIU”
Như mọi chủ nhật, trường trung học ở phố Nô-vô-lip-xki chìm đắm
trong im lặng. Dưới tấm da mặt nhà có khắc mấy tiếng Nga “Trường Nam
trung học”, cổng chính khóa chặt, hành lang toàn cột trông như một ngôi đền
bỏ hoang. Cuộc sống đã rút khỏi cái công trình kiến trúc chạy dài, thấp, chỉ
có một tầng gác này, khỏi những gian phòng sáng sủa, bàn kê hàng dọc, gỗ
đen, mặt bàn xây xát đầy vết dao con khắc tên kỷ niệm, chỉ nghe thấy tiếng
chuông chiều ở nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh thong thả gióng, thỉnh thoảng
xen lẫn tiếng xe bò lọc cọc hoặc vó ngựa uể oải của chiếc xe khách “đô-rốtsca” từ ngoài phố vọng vào. Phía trong hàng rào vây quanh sân trường, bốn
cây tử đinh hương khẳng khiu, bụi bậm đang trổ hoa. Mùi hương ngào ngạt
thường làm khách qua đường, mặc diện ngày chủ nhật, bất giác ngoảnh lại,
ngạc nhiên. Chưa sang tháng sáu mà trời đã nóng. Ở Vác-xô-vi cái nóng
cũng khắc nghiệt, thấm thía như cái rét.
Bầu không khí tĩnh mịch của ngày chủ nhật ấy đang bị khuấy đảo. Từ
gian trái tầng dưới, nơi ở của ông Vla-đi-xoáp Xkhua-đốp-xki, giáo sư vật lý
đồng thời là hiệu phó, vọng ra những tiếng động bí mật như búa đập không
thành nhịp. Bỗng thấy xoảng một cái, một công trình xây dựng nào đó đổ
nhào; tiếp theo là tiếng trẻ con hò la, the thé. Rồi lại tiếng khua.
Rồi những mệnh lệnh ngắn gọn, bằng tiếng Ba Lan:
- Hê-la ơi, tao hết đạn rồi!
- Cái tháp! Dô-dếp ngắm cái tháp!
- Ma-ni-a! Tránh ra!
- Ấy chớ! Em mang thỏi gỗ đến mà!
Lại ầm ầm, bao nhiêu thỏi gỗ vuông rơi tung tóe xuống sàn đánh
bóng xi như lệnh vỡ: ngọn tháp không còn nữa. Tiếng hò hét càng loạn xạ.
Đạn bay tới tấp, trúng đích.
Bãi chiến trường là một phòng rộng, vuông vắn, cửa sổ mở trông ra
sân trường phía sau. Bốn chiếc giường con kê bốn góc. Bọn trẻ nhỏ từ năm
đến chín tuổi rưỡi đang chơi trận giả, la hét inh ỏi. Chẳng là ông cậu, vốn
thích chơi bài, đêm Nô-en có tặng mấy cháu bộ đồ chơi xếp gỗ này. Và chắc
ông không ngờ được công dụng cuối cùng của nó. Vài ngày đầu, Dô-dếp,
Brô-ni-a, Hê-la và Ma-ni-a còn ngoan ngoãn chơi xếp thành quách, cầu
cống, nhà thờ theo mẫu vẽ trên hộp gỗ to. Nhưng rồi các mảnh gỗ ấy mau
chóng đi theo số phận của chúng. Cột nhà bằng gỗ sến ngắn biến thành pháo,
ô vuông thành đạn trái phá và mấy nhà kiến trúc tí hon đã nghiễm nhiên là
những nguyên soái.
Dô-dếp đang nằm rạp xuống sàn, lấn dần tới và lần lượt đẩy khẩu
pháo của mình về phía địch. Ngay giữa trận đánh gay go, nét mặt đứa trẻ
khỏe mạnh trông vẫn nghiêm túc như hệt mọi viên tướng ra trận. Nó lớn tuổi
hơn cả, sáng trí nhất trong bốn đứa trẻ, và cũng chỉ mình nó là con trai ở đây.
Mấy đứa kia toàn con gái, ăn mặc như nhau, có viền xếp nếp trên bộ áo ngày
chủ nhật, yếm màu nâu sẫm thêu hoa dây.
Phải nói rằng bọn con gái cũng cừ đây. Hê-la, đồng minh của Dôdếp, mắt long lên sòng sọc. Nó uất ức vì mới chỉ sáu tuổi rưỡi, không được
ném những thanh gỗ xa hơn, mạnh hơn. Chao, giá nó cũng lên tám như Brôni-a, cô bé múp míp, hồng hào, có mớ tóc hung cứng quật gió trong khi nó
khoa chân múa tay chống đỡ cho đạo quân của mình đang dàn ở giữa hai cửa
sổ.
Cạnh Brô-ni-a, một tiểu đội phó tí hon mặc yếm có hoa dây lon ton
từ tốp quân này, sang tốp quân khác nhặt đạn, bận rộn, mặt mũi đỏ bừng môi
khô lại vì hò hét và cười nhiều quá.
- Ma-ni-a!
Đang chạy, đứa bé sửng sốt dừng lại, buông rời vạt yếm nó đang ôm
gọn vào ngực. Thỏi gỗ rơi loảng xoảng xuống sàn.
- Gì cơ? Chị Dô-sa?
Trong năm đứa con ông giáo, Dô-sa nhớn nhất. Tuy chưa đến mười
hai tuổi, nhưng đối với 4 em, cô đã ra vẻ chững chạc. Tóc màu tro, hất về
phía sau, xòa xuống ngang vai, mặt xinh xắn nhiệt tình, đôi mắt cũng màu
tro, mơ màng tuyệt đẹp.
- Mẹ bảo là đã chơi quá lâu rồi, phải nghỉ thôi.
- Nhưng Brô-ni-a còn cần đến em cơ mà. Em mang thỏi gỗ đến cho
chị ấy.
- Mẹ gọi em ra với mẹ đấy.
Sau một giây phút lưỡng lự, Ma-ni-a cầm tay chị ung dung đi ra. Kể
mới năm tuổi mà chơi đánh trận thì cũng mệt đấy, cô bé cũng nhọc rồi,
chẳng phải là không muốn thôi. Có tiếng ngọt ngào, âu yếm từ buồng bên:
- Ma-ni-a!... Ma-ni-u-sa!... An-xi-u-pê-trô của mẹ đâu?
Ở Ba Lan, người ta ưa gọi nhau bằng những tên nựng nịu ấy.
Trong gia đình ông giáo, từ trước đến nay cô cả Xô-phi vẫn được gọi
thân mật là Dô-sa, cô hai Brô-nhi-xoa-va là Brô-ni-a, Hê-lê-na thành Hê-la,
còn Dô-dếp là Dô-sô. Nhưng có nhiều tên nhất là Ma-ni-a, cô út, yêu nhất
nhà. Ma-ni-a là tên gọi thường ngày, Ma-ni-u-sa là gọi âu yếm, và từ khi còn
đặt trong nôi, cô được cả nhà đặt cho một cái tên ngộ nghĩnh: An-xi-u-pêtrô. An-chiu bé nhỏ.
- Sao tóc con bù thế? Sao mặt con đỏ thế? An-chiu bé nhỏ của mẹ!
Hai bàn tay xanh xao, gầy guộc dịu dàng thắt lại dải yếm, vuốt ve
những búp tóc quăn, để lộ ra gương mặt cương nghị của một nữ bác học vĩ
đại tương lai. Dần dần, đứa bé trở lại yên tĩnh.
*
* *
Ma-ni-a rất yêu quý mẹ. Trên trái đất này, có lẽ chẳng ai xinh đẹp,
dịu hiền, đoan trang bằng mẹ. Bà giáo là con gái đầu lòng của một gia đình
khá giả ở nông thôn. Thân sinh là Fê-lích Bô-gu-xki, thuộc tầng lớp quý tộc
nhỏ thường gặp ở Ba Lan thời đó. Không đủ sống trên mảnh đất của mình,
ông phải làm quản lý cho các nhà quý tộc khác giàu sang và có thế lực hơn.
Trong sáu chị em, có lẽ bà giáo tính tình thăng bằng và sáng trí nhất, không
bị ảnh hưởng một kiểu Xla-vơ nào. Chẳng lập dị, không sôi nổi mà cũng
không thái quá. Tốt nghiệp xong trường phố Phrê-ta ở phố Vác-xô-vi, được
tiếp thụ một nền giáo dục ưu tú, bà quyết đi vào sư phạm, sau một thời gian
dạy học, được cử làm hiệu trưởng. Năm 1860, khi giáo sư Xkhua-đốp-xki
hỏi cưới, ông đã chọn được một người vợ hoàn toàn. Bà không có của hồi
môn nhưng là con nhà giáo, mộ đạo, hoạt bát, có một nghề nghiệp chắc chắn
và lại biết âm nhạc. Bà chơi dương cầm và hát những bài hát trữ tình thời ấy
với một giọng say sưa, tuyệt diệu.
Bà rất đẹp. Bức ảnh hồi mới cưới cho ta thấy một khuôn mặt đều đặn,
mái tóc dày óng mượt bện giản dị, đôi mắt xám có đuôi theo kiểu Ai Cập có
cái nhìn dịu hiền, huyền ảo dưới cặp mày ngài.
Một cuộc hôn nhân nghe nói là “tương xứng”. Họ nhà trai cũng thuộc
tầng lớp quý tộc nhỏ mà thảm họa của nước Ba Lan thời đó làm cho sa sút,
gốc tích ở Xkhua-đi, một vùng thôn trại cách Vác-xô-vi độ một trăm cây số.
Nhiều gia đình thông gia với nhau cùng quê quán ở Xkhua-đi đã lấy tên là
Xkhua-đốp-xki.
Nghề nghiệp tự nhiên của những hộ này là canh tác, trồng trọt. Gặp
thời tao loạn, đất đai ngày càng cằn cỗi và phân tán dần. Đến thế kỷ 18, ông
tổ trực tiếp của Vla-đi-xoáp Xkhua-đốp-xki có vài trăm mẫu ruộng, sống
phong lưu nhàn hạ, đời con hãy còn là điền chủ sung túc nhưng đến Dô-dếp,
thân sinh của ông giáo thì không thế nữa.
Muốn nâng cao thân phận bạc bẽo thấp hèn, và làm vinh dự cho cái
tên mà ông tự hào, Vla-đi-xoáp hướng về đường học vấn. Sau nhiều năm lăn
lộn với nghề mà các cuộc đảo chính và chiến tranh làm cho bi đát, ông được
bổ nhậm làm hiệu trưởng trường Nam trung học một thành phố quan trọng là
Lu-blin. Đó là người trí thức đầu tiên trong họ.
Hai gia đình Bô-gu-xki và Xkhua-đốp-xki đều đông anh em, một nhà
sáu, một nhà bảy. Nhiều người làm ruộng, đi giáo học, một người là thẩm
phán tòa án, một nữ đi tu và cũng có một vài nhân vật kì quặc. Hen-rich, một
em trai của bà giáo là tay chơi bất trị, cứ tưởng mình tài giỏi về những
chuyện phi thường, mạo hiểm. Và anh chàng Di-xoáp – em ông giáo – sống
[2]
lông bông hưởng lạc, đang là sinh viên ở Pê-téc-bua , gặp cuộc khởi nghĩa
[3]
ở Ba Lan, đã đi lính, trong thời gian lánh nạn ở Tu-lu-dơ đã từng làm thơ
bằng tiếng Prô- văng-xơ rồi trở về nước, làm quản lý văn khế ở các tỉnh,
cuộc đời cứ luôn luôn phất rồi lại mạt.
Trong hai dòng họ, những tâm hồn mơ mộng, đắm đuối ở cạnh
những tính tình điềm đạm, những hiền triết sống bên những nhà du hiệp.
Cha mẹ của Ma-ri Qui-ri là những người khôn ngoan. Vla-đi-xoáp
noi gương bố, học hết đại học ở Pê-téc-bua, trở về Vác-xô-vi dạy toán và lý.
Bà giáo mở trường nữ học có kí túc xá mà các nhà giàu sang trong thành phố
đều cho con gái đến học. Gia đình ở phố Phrê-ta trên gác, sống ở đây tám
năm trời. Mỗi buổi sáng khi thầy giáo bước chân qua cửa; nhìn ra sân, thầy
thấy các bao lơn nhẹ nhàng như những tràng hoa giăng từ cửa sổ này đến
cửa sổ nọ, thì mấy buồng phía trước đã rộn ràng tiếng cười nói của các cô
học sinh đợi giờ học đầu tiên trong ngày.
Năm 1869, ông giáo được bổ nhiệm về dạy và làm hiệu phó trường
Nam trung học phố Nô-vô-lip-xki, bà giáo phải thích nghi với sự thay đổi
này. Không thể đến chỗ ở mới do chức vụ của chồng được thu xếp, đồng
thời tiếp tục quản lý kí túc xá và chăm sóc con cho chu đáo. Bà đành nhường
lại trường tư thục, lòng rất luyến tiếc, rời phố Phrê-ta, nơi trước đây ít lâu –
ngày 7 tháng 9 năm 1867 – cô bé Ma-ni-a ra đời.
Ma-ni-a chưa hiểu nổi cái lý do khe khắt của những cử chỉ ấy và nỗi
cô quạnh mà mẹ em đang giam hãm mình vào. Bà giáo lâm bệnh nặng. Triệu
chứng lau phổi đầu tiên chớm nở ngay từ khi mới sinh Ma-ni-a cho đến nay
đã năm năm rồi, khám và chữa rất nhiều, bệnh vẫn cứ phát triển. Người đàn
bà ngoan đạo ấy rất can đảm, luôn luôn gọn gàng trong ăn mặc, bận rộn việc
nội trợ, làm ra vẻ như là mình vẫn khỏe. Nhưng bà tự ràng buộc vào một
khuôn khổ chặt chẽ: dùng thìa, bát riêng và không hôn hít các con. Mấy đứa
trẻ chỉ biết phảng phất về căn bệnh nguy hiểm của mẹ: thỉnh thoảng lại một
cơn ho khan chúng nghe thấy từ buồng bên, nét mặt rầu rĩ của ông giáo và
một câu ngắn gần đây được thêm vào đoạn cầu nguyện buổi chiều: “Cầu
chúa cho mẹ chúng ta khỏe lại”.
Người mẹ trẻ đứng dậy đẩy nhẹ bé Ma-ni-a cứ bám chặt lấy váy bà.
- Ma-ni-u-sa, cho mẹ yên nào. Mẹ bận.
- Con ở đây được không? Con đọc một tí mẹ nhé?
- Mẹ thích con ra vườn. Ngoài kia trời đẹp quá.
Cứ nói đến đọc sách thì đôi má Ma-ni-a lại ửng hồng. Năm ngoái,
Brô-ni-a ở thôn quê học chữ cái một mình thấy chán mới rủ bé chơi làm “cô
giáo, học trò”. Trong mấy tuần, hai chị em xếp các chữ bằng bìa cắt, đặt lộn
xộn. Rồi một buổi sáng, trong khi Brô-ni-a ê a đánh vần một bài rất dễ cho
bố mẹ nghe, Ma-ni-a sốt ruột giằng lấy sách đọc một mạch hết câu đầu. Mới
đầu nó thấy thích thú vì mọi người lắng nghe nên cứ kéo dài cái trò say sưa
ấy. Nhưng bỗng nó thấy sợ hãi. Sự kinh ngạc lộ trên mặt ông bà Xkhua-đốpxki, còn Brô-ni-a thì nhăn nhó, phụng phịu. Nó bập bẹ vài câu lí nhí rồi bật
tiếng khóc không nén được. Đứa trẻ xuất chúng giờ đây chỉ còn là một em bé
bốn tuổi, đang nức nở, và nhắc đi nhắc lại rất thiểu não:
- Con xin lỗi… con không cố ý, chẳng phải lỗi con… chẳng phải tội
của Brô-ni-a. Tại là dễ quá.
Tâm hồn trẻ thơ của nó chợt hiểu ra rằng có lẽ không bao giờ được
tha tội vì đã tập đọc sớm thế.
Từ buổi sáng đáng ghi nhớ ấy, Ma-ni-a làm quen dần với các mặt
chữ, và nếu không tiến bộ rõ rệt, đó là tại cha mẹ không bao giờ để em cầm
đến quyển sách. Là những nhà sư phạm thận trọng, ông bà Xkhua-đốp-xki
không muốn con học quá sớm; mỗi khi đứa bé giơ tay muốn lấy một trong
những tập tranh có chữ to để quanh trong nhà thì lại được gợi ý: “Con chơi
xếp gỗ nhá! Búp bê của con đâu rồi? Con hát cho mẹ nghe nào!”. Và như
hôm nay: “Mẹ thích con ra vườn hơn”.
- Con đi tìm chị Dô-sa vậy
- Cũng được.
- Dô-sa!
Qua cái sân nhỏ hẹp nơi hằng ngày chúng vẫn chơi “đuổi bắt” và “bịt
mắt bắt dê”, hai chị em cầm tay nhau đi dọc theo trường trung học, đến một
cái vườn lớn, cửa gỗ mọt ọp ẹp. Giữa bốn bức tường, những thảm cỏ lưa
thưa, những cây cao tù hãm thoảng một mùi đất, một hương vị đồng nội.
- Chị Dô-sa ơi! Bao giờ lại đi Dơ-vô-la đây?
- Sau tháng bảy mới đi cơ. Em còn nhớ Dơ-vô-la à?
Ma-ni-a có một trí nhớ lạ lùng, không quên cái gì hết. Cái thác nước
mùa hè năm ngoái mấy chị em bì bõm hàng giờ, mò đất nặn “những bánh xà
phòng” rồi đem phơi nắng trên một tấm ván ở một chỗ chỉ có chúng biết mà
thôi, đứa nào đứa nấy váy và yếm bùn bê bết. Bảy tám đứa trẻ rủ nhau trèo
lên cây chè già, đem theo cả cô bé có đôi tay quá yếu, đôi chân ngắn ngủn.
Họ lấy những lá cải vừa lạnh vừa giòn, phủ lên những cành to và gói trong
những lá cải khác, nào là quả dâu tây, củ cà rốt non mơn mởn, quả anh đào,
để giấu trong hốc tường cho tươi. Lại nhớ đến làng Mác-ki nữa, cái kho lúa
nóng khiếp, Dô-dếp vẫn đến học cửu chương, chúng chơi vùi Ma-ni-a dưới
đống lúa. Còn bác Xkri-pốp-xki mỗi lần đánh xe ngựa qua, hay quất cái roi
da nghe đến là vui! À, còn đàn ngựa của chú Xa-vi-ê nữa!
Bọn trẻ tỉnh thành ấy thường có những ngày hè say sưa như vậy. Họ
hàng đông chỉ một nhánh ra ở thành phố. Tỉnh nào cũng có hai dòng họ
Xkhua-đốp-xki và Bô-gu-xki làm ruộng, nhà cửa ở thôn quê tuy không rộng
rãi lắm, nhưng cũng có đủ buồng để đón ông giáo cùng gia đình về nghỉ mát.
Do đó mặc dù hoàn cảnh bố mẹ không lấy gì làm phong lưu lắm, Ma-ni-a
chưa hề biết đến những nhà trọ tầm thường tại những nơi nghỉ mát bình dân
ở Vác-xô-vi. Và cứ mùa hè, cô bé gia đình trí thức ấy lại trở thành một em
gái thôn quê thật sự, đúng với bản chất sâu xa của dòng họ.
- Chúng mình chạy thi nào… chị cuộc là sẽ đến cuối vườn trước Mani-a đấy. – Dô-sa vui vẻ thốt lên với giọng chững chạc của một chị cả.
- Em chả muốn chạy đâu. Em muốn nghe kể chuyện cơ.
Không ai biết kể chuyện như Dô-sa, cả ông giáo và bà giáo, trí tưởng
tượng của cô thêm thắt nhiều chi tiết li kì vào những giai thoại, những
chuyện thần tiên như những khúc biến tấu tài tình của một người chơi đàn rất
giỏi. Dô-sa còn tự nghĩ ra những đoạn hát kịch ngắn và đóng rất sôi nổi
trước con mắt ngạc nhiên của các em. Chúng hoàn toàn bị chinh phục bởi tài
tác giả và nghệ sĩ. Ma-ni-a lúc thì cười ngặt nghẽo, khi thì run bắn lên khi
nghe những chuyện hoang đường quái đản mà tuổi lên năm của nó khó mà
theo dõi liên tục.
Hai chị em quay về nhà. Càng đến gần trường, Dô-sa càng hạ giọng,
và tự kiềm chế. Câu chuyện còn đang nghĩ và kể dở, cô bỗng dừng lại. Đi
qua gian nhà phía tay phải có cửa sổ treo rèm cứng, hai đứa bé im bặt.
Sau những rèm cửa ấy, có một con người mà gia đình ông giáo rất
ghét mà cũng rất sợ, đó là viên hiệu trưởng I-van-nốp, đại diện của chính
phủ Sa hoàng trong trường này.
*
* *
Năm 1872. Còn ai khổ nhục bằng người dân Ba Lan “thuộc Nga” ở
vào hàng ngũ trí thức đa cảm, mà thần kinh đã căng thẳng, và đầu óc cách
mạng đang âm ỉ, họ cay đắng, nhức nhối hơn mọi tầng lớp khác vì ách đô hộ
đè nặng trên đầu.
Đúng một thế kỷ rồi, những vua chúa tàn bạo, lân bang đáng sợ của
một nước Ba Lan suy nhược đã quyết định bóp chết nước này. Đức, Nga, Áo
đã ba lần chia đi cắt lại mảnh đất đau thương đó. Người dân Ba Lan đã đứng
lên chống lại bọn đô hộ. Mỗi lần thất bại, cái thòng lọng buộc vào cổ họ lại
càng thắt chặt. Sau khi cuộc đảo chính oanh liệt năm 1831 không thành, Sa
hoàng Ni-cô-lai I đã ra lệnh trừng trị khốc liệt: hàng loạt người yêu nước bị
tù đày, tịch thu tài sản.
Năm 1863, lại một lần dấy lên, lại một lần bị dìm trong máu. Nghĩa
quân chỉ có đinh ba, lưỡi liềm và gậy gộc chống với súng đạn của Sa hoàng.
Mười tám tháng chiến đấu thất bại, ngoài thành quách Vác-xô-vi dựng lên
năm giá treo cổ, thây bao người yêu nước vật vờ trước gió.
Sau thảm họa đó, bọn thống trị tìm mọi cách khuất phục nước Ba Lan
không cam tâm chịu chết. Từng đoàn tù chính trị tay cùm chân xích bị áp
giải đi Xi-bê-ri, đến những nơi quanh năm phủ tuyết. Hàng loạt người khác
kéo vào Ba Lan để Nga hóa vùng này. Đó là những cảnh sát, giáo sư, viên
chức, mà nhiệm vụ là do thám dân Ba Lan, khủng bố tôn giáo của họ, cấm
đoán sách báo tiến bộ, dần dần xóa bỏ tiếng nói của nước này, tóm lại, tiêu
diệt linh hồn một dân tộc.
Những cuộc đề kháng được tổ chức ngay ở hàng ngũ bên kia. Kinh
nghiệm xương máu cho người Ba Lan thấy rõ ràng lúc đó, thời cơ chưa đến
để giành lại tự do bằng vũ lực. Họ buộc lòng phải đợi và chống lại những
nguy cơ của sự chờ đợi là nhu nhược và chán nản.
Thế là cuộc chiến đấu thay đổi trận địa. Những anh hùng giờ đây
không còn là những chiến sĩ chỉ có liềm hái trong tay xông vào đám quân
Cô-dắc và ngã xuống, miệng hô như nhân vật Lu-i Mác-buyt nổi tiếng:
“Sung sướng thay được chết cho Tổ quốc ta!” mà là những trí thức, những
nghệ sĩ, nhà tu hành, thầy giáo – những người quyết định tinh thần của thế hệ
mới. Sự dũng cảm của họ là cố nén lòng, giấu những ý nghĩ tình cảm của
mình, chịu nhẫn nhục bám lấy những vị trí mà Sa hoàng còn thí cho họ để từ
đó, có thể bí mật đào tạo lớp trẻ, hướng dẫn đồng bào.
Thế là trong mỗi trường trung học ở Ba Lan, thường có mâu thuẫn
sâu sắc giữa những người chiến bại và những kẻ chiến thắng, những giáo sư
bị chèn ép và những hiệu trưởng do thám, những Xkhua-đốp-xki và những Iva-nốp, dưới bề mặt lịch thiệp giả tạo.
Đặc biệt đáng ghét là tên I-va-nốp. Hắn không một chút thương xót
những người làm việc dưới quyền bị bắt buộc phải dạy trẻ nước mình bằng
tiếng Nga. Đương ngọt ngào, đường mật, hắn có thể trở mặt ngay, văng tục
cục cằn, thô lỗ. Tuy dốt đặc cán mai, hắn vẫn soi mói xem lại bài làm của
các học sinh ngoại trú để bới tìm “những cách nói Ba Lan”. Giữa I-va-nốp và
ông Xkhua-đốp-xki quan hệ trở nên lạnh nhạt như băng giá kể từ ngày ông
giáo, muốn bênh vực học trò, đã bình tĩnh nói thẳng vào mặt hắn: “Thưa ông
I-va-nốp, em bé này chẳng qua chỉ sơ ý nên mới viết lỗi. Bản thân ông còn
có thể viết tiếng Nga sai, và rất nhiều lần nữa là khác. Tôi chắc rằng cũng
như những họ...
LỜI TÁC GIẢ
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXII
CHƯƠNG XXIII
CHƯƠNG XXIV
CHƯƠNG XXV
CHƯƠNG XXVI
CHƯƠNG XXVII
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
LỜI GIỚI THIỆU
Trong những nhà bác học lớn của thế kỷ 20, thế kỷ của vật lý học, có
một hình ảnh sáng ngời rất đỗi gần gũi chúng ta. Đó là Ma-ri Qui-ri, nữ bác
học ngừơi Ba Lan, mà tên tuổi cùng với chồng là nhà vật lý Pháp Pi-e Qui-ri,
gắn liền với một giai đoạn phát minh khoa học và phát triển kỹ thuật vô cùng
rạng rỡ trong lịch sử văn minh loài người.
Một khám phá đảo lộn cả nền triết học và vật lý của mấy thế kỷ
trước, là ánh bình minh của thời đại nguyên tử, trong điều kiện nghiên cứu
thô sơ, tạm bợ “bốn năm ở một nhà xe” nghe như chuyện thần tiên lại do
một phụ nữ rụt rè, thầm lặng, tính tình nếp sống chẳng khác gì chị em lao
động bình dị, chất phác, nhưng tâm hồn, tư tưởng có tầm vóc thời đại.
Cuối thế kỷ 19, nước Ba Lan còn bị vùi dập dưới ách phong kiến phụ
thuộc. Do tư tưởng trọng năm khinh nữ, thời đó phụ nữ không được vào Đại
học, Ma-ri-a Xkhua-dốp-xka, con một gia đình nhà giáo yêu nước bị chèn
ép, đã không chịu sống trói buộc, thấp hèn, ra sức học hỏi tích luỹ kiến thức
với một lý tưởng quán xuyến cả cuộc đời say mê khoa học.
Em bé chưa đầy mười hai tuổi mồ côi mẹ, thời thơ ấu bị đau thương
đè nén, càng yêu quê hương đất nước, yêu từ tiếng nói đến lịch sử dân tộc.
Đang học trung học, mặc dầu bị cấm đoán Ma-ri-a Xkhua-dôp-xka vẫn lén
lút tìm dự các buổi “Đại học di động”. Say sưa với những luồng tư tưởng
tiến bộ hướng về tầng lớp lao động.
Cô gái mười bảy, hiếu thảo tận tình, muốn giúp chị có tiền ra học
nước ngoài, đỡ đần cha và dành dụm thêm cho mình, đã đi tỉnh xa dạy tư
tám năm ròng rã, gần gũi con em nông dân với một lòng yêu chân thành. Tha
thiết khêu gợi cho các em thấy vẻ đẹp của tiếng nói mẹ đẻ và lịch sử đất
nước Ba Lan. Cô tìm thấy ở các em “niềm vui lớn và nguồn an ủi chính” của
mình, ở địa phương hẻo lánh, không người hướng dẫn, cô vẫn tự mình cố
gắng học thêm.
Cô nữ sinh viên 25 tuổi, miệt mài sách vở, kham khổ ba năm để
giành hai bằng cử nhân toán lý, đỗ nhất và nhì đồng thời trang bị cho mình
một vốn kiến thức khoa học cơ bản vững chắc. Khi tốt nghiệp xong, cô đã
hoàn lại học bổng mình nhận trước kia, để số tiền này lại có thể giúp một
bạn học nghèp khác.
Người mẹ hai con vẫn thi thạc sĩ đỗ đầu, lại chuẩn bị thi tiến sĩ. Bốn
mươi lăm tháng trời vất vả, nghiên cứu các chất phóng xạ, cùng chồng tìm ra
hai kim loại mới, và cả phương thức khai thác. Một thành công kỳ diệu đã
đem lại cho hai vợ chồng giải Noben vật lý 1903, chung với một nhà bác học
nổi tiếng đương thời.
Người quả phụ 38 tuổi, trong bước thảm khốc của đời mình đã nén
đau thương, tần tảo lao động nuôi con và chăm sóc bố chồng già, lại đảm
đương trọng trách thay chồng một cách xuất sắc, tiếp tục nghiên cứu, phát
minh, đặt nền móng cho một khoa học và một công nghiệp mới, giật thêm
một Noben về hoá học. Có thể cho con cái một gia tài lớn, nhưng bà đã đem
lại cho nhà nước Pháp mảnh kim loại trị giá một triệu “francs” và đem tiền
thưởng Noben cùng trang sức của mình chuyển thành quốc trái, với ý nghĩ
đơn giản mà cao đẹp: “con cái nó phải tự kiếm sống là điều lành mạnh tất
nhiên”. dạy dỗ con gái thành tài, sau này cũng nối nghiệp mẹ và cũng được
giải Noben (1934).
Nữ bác học nổi tiếng vẫn giữ bản chất tốt đẹp của một người lao
động, cần mẫn, giản dị, không hay nói đến mình, không thích tiền tài, danh
vọng, chỉ say sưa nghiên cứu, chỉ muốn làm việc và cống hiến. Trong chếin
tranh, ra tiền tuyến với chiếc xe điện quang tự thiết kế, bà lăn lộn khắp chiến
trường cứu chữa thương binh, như một chiến sĩ, chẳng nề hà gian khổ, chẳng
đòi hỏi đối xử riêng biệt. Nhìn rõ trách nhiệm của người trí thức “không thể
đứng trên cuộc chiến đấu và sẽ phản lại sứ mệnh của mình, nếu không kiên
trì bảo vệ văn minh và tự do tư tưởng”. Chính nhờ đi vào thực tế cuộc sống
chiến đấu mà bà đã có thêm nhiều thành tựu độc đáo về khoa học ứng dụng
và kỹ thuật thực hành. Như đã thấy được đây là cả một sự nghiệp quần
chúng, bà đã đào tạo hàng trăm người làm công tác khoa học kỹ thuật là con
em nhân dân lao động cho yêu cầu thời chiến. Càng tha thiết đến tiền đồ
khoa học, bà càng quan tâm đến “những tài năng chưa phát triển, trong
những tầng lớp xã hội ít được nâng đỡ” vì “một nông dân, một công dân, biết
đâu chẳng là mầm mống một nhà văn, nhà bác học, hoạ sĩ?”
Nhà tri thức chân chính và từng trải đã thành một người có tài tổ
chức và cổ vũ, ra sức vun đắp thế hệ trẻ với lòng hy sinh cao cả, vừa chỉ đạo
chuyện môn, vừa hoạt động xã hội “chú trọng phát triển các học bổng quốc
tế về nghiên cứu khoa học, đấu tranh cho một nền văn hoá quốc tế vẫn tôn
trọng các nền văn hoá dân tộc, bảo vệ nhân cách và tài năng bất cứ nơi đâu,
củng cố sức mạnh tinh thần lớn lao của khoa học trên thế giới”.
Qua hình ảnh Ma-ri, người phụ nữ Ba Lan giàu tình cảm ước mơ,
nhưng còn giàu nghị lực và ý chí hơn nữa, luôn luôn cưỡng lại số phận tàn
khốc, vươn lên làm tròn nhiệm vụ mà cuộc sống và lịch sử đặt cho mình,
ngay cả lúc đau khổ nhất, hàng vạn chị em phụ nữ Việt Nam có thể tìm thấy
những nét về thời tuổi trẻ và đời sống tình cảm của mình, của những con
người dũng cảm, bất khuất, trung hậu, đảm đang trên hai miền đất nước. Và
kiều bào ta trên thế giới bấy lâu da diết nhớ quê cha đất tổ giờ đây thông cảm
hơn bao giờ hết với người trí thức Ba Lan bốn chục năm xa quê hương vẫn
không quên được tiếng mẹ đẻ và dòng sông Vit-xtuyn, vẫn tha thiết với vận
mệnh và tiền đồ tổ quốc Ba Lan, đã tìm cách tặng thủ đô Vác-xô-vi của lòng
mình một viện Ra-đi-om, để đền đáp ơn nghĩa chôn nhau cắt rốn vì đã gửi
gấm cả cuộc đời hoạt động khoa học trên đất nước người.
Ngày nay trên đất nước đang lớn lên, có bao khó khăn, thử thách
chúng ta càng được khích lệ và tin tưởng khi nghĩ đến điều kiện làm việc rất
đỗi khó khăn mà lại thành công rực rỡ của Ma-ri Qui-ri. Chị em phụ nữ ta
đều có thể học tập những điều bổ ích ở cuộc đời và sự nghiệp của Ma-ri Quiri ở lòng say mê học hỏi nghiên cứu phát minh khoa học không vì tiếng hay
danh vọng và đức tính cần cù, nhẫn nại, giản dị, thanh liêm.
Học tập giờ đây đâu chỉ là nhu cầu cuộc sống mà còn là phẩm chất
đạo đức, là đấu tranh với thiên nhiên và bản thân khắc phục mọi trở ngại khó
khăn do dốt nát sinh ra, nâng cao mại trình độ tiếp thu và tích luỹ kiến thức
của dân tộc và thế giới nhằm giải quyết tốt đẹp mọi vấn đề đời sống con
người và xã hội, vì ngày mai hạnh phúc huy hoàng của nhân dân ta, dân tộc
ta, Tổ quốc ta.
Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn “Nữ bác học Ma-ri Qui-ri” do
con gái bà là E-vơ Qui-ri viết, nguyên bản tiếng Pháp đã được dịch ra 26 thứ
tiếng. Một tác phẩm sinh động chân thật về một phụ nữ đại tài, một nhà khoa
học chân chính .
Tháng 4 năm 1982
ĐÀO TRỌNG TỪ
MỤC LỤC
LỜI TÁC GIẢ
CHƯƠNG I
CHƯƠNG II
CHƯƠNG III
CHƯƠNG IV
CHƯƠNG V
CHƯƠNG VI
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG IX
CHƯƠNG X
CHƯƠNG XI
CHƯƠNG XII
CHƯƠNG XIII
CHƯƠNG XIV
CHƯƠNG XV
CHƯƠNG XVI
CHƯƠNG XVII
CHƯƠNG XVIII
CHƯƠNG XIX
CHƯƠNG XX
CHƯƠNG XXI
CHƯƠNG XXII
CHƯƠNG XXIII
CHƯƠNG XXIV
CHƯƠNG XXV
CHƯƠNG XXVI
CHƯƠNG XXVII
LỜI TÁC GIẢ
Cuộc đời của Ma-ri Qui-ri rất nhiều nét cao siêu đến nỗi người ta
muốn kể lại như một câu chuyện cổ tích.
*
* *
Một phụ nữ thuộc một dân tộc bị áp bức, nghèo và đẹp. Theo tiếng
gọi của một chí hướng mãnh liệt, bà rời tổ quốc Ba Lan của mình, đến Pa-ri
học, sống những năm cô đơn túng bách.
Bà gặp Pi-e Qui-ri, cùng một thiên tư hiếm có. Hai người lấy nhau.
Hạnh phúc của họ có một chất lượng duy nhất.
Qua nỗ lực kiên trì và vô vàn gian khổ, Ma-ri và Pi-e Qui-ri tìm ra
một chất màu nhiệm: đó là nguyên tố Ra-đi. Phát minh này không chỉ khai
sinh ra một khoa học mới và một triết học mới, nó còn mang đến cho loài
người cách điều trị một căn bệnh khủng khiếp.
Giữa lúc vinh quang của hai nhà bác học lan khắp thế giới, tai ương
đổ xuống đầu Ma-ri. Phút chốc, cái chết cướp đi của bà người bạn đời kì
diệu.
Đau khổ và bệnh hoạn không sờn lòng, bà tiếp tục công việc đang
tiến hành, phát triển một cách rực rỡ bộ môn khoa học do hai vợ chồng sáng
lập ra.
Cho đến cuối đời, Ma-ri Qui-ri chỉ biết có cống hiến. Với thương
binh, bà đã hiến dâng tất cả lòng tận tụy và sức khỏe của mình. Sau này bà
dành toàn bộ kiến thức và thì giờ cho những sinh viên từ khắp năm châu đến
học, được bà hết lòng khuyên răn, đào tạo thành những nhà bác học tương
lai.
Xong sự nghiệp, kiệt sức, bà từ giã cuộc đời sau khi đã khước từ phú
quý và dửng dưng với danh vọng.
*
* *
Câu chuyện không khác gì truyền thuyết này, tôi cảm thấy có tội lỗi
nếu đặt thêm vào dù chỉ là một điều trang trí nhỏ bé nhất. Mỗi giai đoạn
được kể ra đây đều đã xác minh chắc chắn, mỗi lời chủ yếu là trung thực, cả
đến màu sắc một chiếc áo. Sự việc đã xảy ra, lời lẽ được nói ra đúng như
vậy.
Họ hàng bên mẹ tôi ở Ba Lan, nhất là dì ruột tôi là bà Du-xki, người
chị thân thiết của mẹ tôi, đã cung cấp cho tôi những lá thư quý giá, và những
kỷ niệm sống về tuổi niên thiếu của nhà nữ bác học. Viết về cuối đời của
Ma-ri Qui-ri, tôi đã dựa vào giấy tờ riêng cùng những ghi chép vắn tắt của bà
và những câu chuyện và thư từ của bạn bè người Pháp và người Ba Lan,
những ký ức của chị tôi là I-ren Giô-li-ô Qui-ri và anh rể tôi là Phơ-rê-đêrich Giô-li-ô.
Mong rằng bạn đọc, qua những diễn biến nhất thời của một quãng
đời, nhận rõ điều mà ở bà Qui-ri còn quý hơn cả sự nghiệp và cuộc sống nên
tranh của bà: đó là tính kiên định, sự nỗ lực kiên trì, tất thắng của trí tuệ,
lòng hy sinh của một con người đã biết cho tất cả mà không biết lấy một thứ
gì, thậm chí nhận một thứ gì. Và sau cùng là tâm hồn mà không có gì – thành
công xuất sắc hay hoạn nạn – làm vẩn đục được tính trong trắng tột bực.
Chính do tâm hồn như vậy mà Ma-ri Qui-ri đã không chút ngần ngại
gạt xa những thuận lợi mà danh vọng vẫn đem lại cho những thiên tài chân
chính.
Bà đã phải đau khổ vì thế giới đương thời cứ muốn bà đóng vai một
nhân vật tiếng tăm. Con người vốn nghiêm khắc với mình và sống nhiều về
nội tâm, đã không thể chọn thái độ thường đi đôi với danh vọng: thân mật,
hòa nhã một cách máy móc, nghiêm nghị cố ý, khiêm tốn bề mặt.
Ma-ri Qui-ri không biết kiểu cách cư xử của những người danh tiếng.
*
* *
Tôi sinh ra khi mẹ tôi đã 37 tuổi. Lớn lên, đủ trí khôn nhận xét, tôi
thấy bà Qui-ri đã là một phụ nữ có tuổi, lừng lẫy. Thế nhưng chính “nhà bác
học nổi tiếng” lại xa lạ với tôi hơn cả có lẽ vì Ma-ri Qui-ri không hề bận tâm
với ý nghĩ rằng mình có danh vọng. Và tôi luôn luôn cảm thấy như vẫn sống
với một nữ sinh viên nghèo dạt dào ước vọng tên là Ma-ri-a Xkhua-đốp-xka,
từ rất lâu trước khi tôi ra đời.
Cho đến lúc thở hơi cuối cùng, Ma-ri vẫn giống người con gái đó.
Một sự nghiệp lâu dài, vất vả, sáng chói đã không làm cho bà lớn hơn hoặc
thấp kém, hóa thần thánh hoặc sa đọa. Và đến ngày cuối cùng, vẫn một vẻ
dịu hiền, bướng bỉnh, dút dát và ham hiểu biết như thuở hàn vi.
Đối với một con người như vậy, lúc chết, giá có được nghi lễ linh đình,
theo kiểu mà các chính phủ thường dành cho các vĩ nhân của họ thật là một
điều phạm thánh, bất kính. Bà được an táng giản dị, lặng lẽ tại một nghĩa
[1]
trang thôn quê , giữa hoa lá đồng nội, dường như cuộc sống vừa chấm dứt
cũng bình dị như trăm nghìn cuộc sống khác…
*
* *
Ước gì tôi có khiếu viết văn để miêu tả người nữ sinh muôn thuở mà
nhà bác học Anh-xtanh đã nói:
“Trong tất cả những danh nhân, bà Qui-ri là người duy nhất không bị
vinh quang làm cho hư hỏng”.
Bà đã bước trên đường đời như một người ngoài cuộc, nguyên vẹn,
hồn nhiên, gần như dửng dưng với số phận lạ lùng của mình.
E-VƠ QUI-RI
PHẦN THỨ NHẤT
CHƯƠNG I
“AN-CHIU”
Như mọi chủ nhật, trường trung học ở phố Nô-vô-lip-xki chìm đắm
trong im lặng. Dưới tấm da mặt nhà có khắc mấy tiếng Nga “Trường Nam
trung học”, cổng chính khóa chặt, hành lang toàn cột trông như một ngôi đền
bỏ hoang. Cuộc sống đã rút khỏi cái công trình kiến trúc chạy dài, thấp, chỉ
có một tầng gác này, khỏi những gian phòng sáng sủa, bàn kê hàng dọc, gỗ
đen, mặt bàn xây xát đầy vết dao con khắc tên kỷ niệm, chỉ nghe thấy tiếng
chuông chiều ở nhà thờ Đức Mẹ Đồng Trinh thong thả gióng, thỉnh thoảng
xen lẫn tiếng xe bò lọc cọc hoặc vó ngựa uể oải của chiếc xe khách “đô-rốtsca” từ ngoài phố vọng vào. Phía trong hàng rào vây quanh sân trường, bốn
cây tử đinh hương khẳng khiu, bụi bậm đang trổ hoa. Mùi hương ngào ngạt
thường làm khách qua đường, mặc diện ngày chủ nhật, bất giác ngoảnh lại,
ngạc nhiên. Chưa sang tháng sáu mà trời đã nóng. Ở Vác-xô-vi cái nóng
cũng khắc nghiệt, thấm thía như cái rét.
Bầu không khí tĩnh mịch của ngày chủ nhật ấy đang bị khuấy đảo. Từ
gian trái tầng dưới, nơi ở của ông Vla-đi-xoáp Xkhua-đốp-xki, giáo sư vật lý
đồng thời là hiệu phó, vọng ra những tiếng động bí mật như búa đập không
thành nhịp. Bỗng thấy xoảng một cái, một công trình xây dựng nào đó đổ
nhào; tiếp theo là tiếng trẻ con hò la, the thé. Rồi lại tiếng khua.
Rồi những mệnh lệnh ngắn gọn, bằng tiếng Ba Lan:
- Hê-la ơi, tao hết đạn rồi!
- Cái tháp! Dô-dếp ngắm cái tháp!
- Ma-ni-a! Tránh ra!
- Ấy chớ! Em mang thỏi gỗ đến mà!
Lại ầm ầm, bao nhiêu thỏi gỗ vuông rơi tung tóe xuống sàn đánh
bóng xi như lệnh vỡ: ngọn tháp không còn nữa. Tiếng hò hét càng loạn xạ.
Đạn bay tới tấp, trúng đích.
Bãi chiến trường là một phòng rộng, vuông vắn, cửa sổ mở trông ra
sân trường phía sau. Bốn chiếc giường con kê bốn góc. Bọn trẻ nhỏ từ năm
đến chín tuổi rưỡi đang chơi trận giả, la hét inh ỏi. Chẳng là ông cậu, vốn
thích chơi bài, đêm Nô-en có tặng mấy cháu bộ đồ chơi xếp gỗ này. Và chắc
ông không ngờ được công dụng cuối cùng của nó. Vài ngày đầu, Dô-dếp,
Brô-ni-a, Hê-la và Ma-ni-a còn ngoan ngoãn chơi xếp thành quách, cầu
cống, nhà thờ theo mẫu vẽ trên hộp gỗ to. Nhưng rồi các mảnh gỗ ấy mau
chóng đi theo số phận của chúng. Cột nhà bằng gỗ sến ngắn biến thành pháo,
ô vuông thành đạn trái phá và mấy nhà kiến trúc tí hon đã nghiễm nhiên là
những nguyên soái.
Dô-dếp đang nằm rạp xuống sàn, lấn dần tới và lần lượt đẩy khẩu
pháo của mình về phía địch. Ngay giữa trận đánh gay go, nét mặt đứa trẻ
khỏe mạnh trông vẫn nghiêm túc như hệt mọi viên tướng ra trận. Nó lớn tuổi
hơn cả, sáng trí nhất trong bốn đứa trẻ, và cũng chỉ mình nó là con trai ở đây.
Mấy đứa kia toàn con gái, ăn mặc như nhau, có viền xếp nếp trên bộ áo ngày
chủ nhật, yếm màu nâu sẫm thêu hoa dây.
Phải nói rằng bọn con gái cũng cừ đây. Hê-la, đồng minh của Dôdếp, mắt long lên sòng sọc. Nó uất ức vì mới chỉ sáu tuổi rưỡi, không được
ném những thanh gỗ xa hơn, mạnh hơn. Chao, giá nó cũng lên tám như Brôni-a, cô bé múp míp, hồng hào, có mớ tóc hung cứng quật gió trong khi nó
khoa chân múa tay chống đỡ cho đạo quân của mình đang dàn ở giữa hai cửa
sổ.
Cạnh Brô-ni-a, một tiểu đội phó tí hon mặc yếm có hoa dây lon ton
từ tốp quân này, sang tốp quân khác nhặt đạn, bận rộn, mặt mũi đỏ bừng môi
khô lại vì hò hét và cười nhiều quá.
- Ma-ni-a!
Đang chạy, đứa bé sửng sốt dừng lại, buông rời vạt yếm nó đang ôm
gọn vào ngực. Thỏi gỗ rơi loảng xoảng xuống sàn.
- Gì cơ? Chị Dô-sa?
Trong năm đứa con ông giáo, Dô-sa nhớn nhất. Tuy chưa đến mười
hai tuổi, nhưng đối với 4 em, cô đã ra vẻ chững chạc. Tóc màu tro, hất về
phía sau, xòa xuống ngang vai, mặt xinh xắn nhiệt tình, đôi mắt cũng màu
tro, mơ màng tuyệt đẹp.
- Mẹ bảo là đã chơi quá lâu rồi, phải nghỉ thôi.
- Nhưng Brô-ni-a còn cần đến em cơ mà. Em mang thỏi gỗ đến cho
chị ấy.
- Mẹ gọi em ra với mẹ đấy.
Sau một giây phút lưỡng lự, Ma-ni-a cầm tay chị ung dung đi ra. Kể
mới năm tuổi mà chơi đánh trận thì cũng mệt đấy, cô bé cũng nhọc rồi,
chẳng phải là không muốn thôi. Có tiếng ngọt ngào, âu yếm từ buồng bên:
- Ma-ni-a!... Ma-ni-u-sa!... An-xi-u-pê-trô của mẹ đâu?
Ở Ba Lan, người ta ưa gọi nhau bằng những tên nựng nịu ấy.
Trong gia đình ông giáo, từ trước đến nay cô cả Xô-phi vẫn được gọi
thân mật là Dô-sa, cô hai Brô-nhi-xoa-va là Brô-ni-a, Hê-lê-na thành Hê-la,
còn Dô-dếp là Dô-sô. Nhưng có nhiều tên nhất là Ma-ni-a, cô út, yêu nhất
nhà. Ma-ni-a là tên gọi thường ngày, Ma-ni-u-sa là gọi âu yếm, và từ khi còn
đặt trong nôi, cô được cả nhà đặt cho một cái tên ngộ nghĩnh: An-xi-u-pêtrô. An-chiu bé nhỏ.
- Sao tóc con bù thế? Sao mặt con đỏ thế? An-chiu bé nhỏ của mẹ!
Hai bàn tay xanh xao, gầy guộc dịu dàng thắt lại dải yếm, vuốt ve
những búp tóc quăn, để lộ ra gương mặt cương nghị của một nữ bác học vĩ
đại tương lai. Dần dần, đứa bé trở lại yên tĩnh.
*
* *
Ma-ni-a rất yêu quý mẹ. Trên trái đất này, có lẽ chẳng ai xinh đẹp,
dịu hiền, đoan trang bằng mẹ. Bà giáo là con gái đầu lòng của một gia đình
khá giả ở nông thôn. Thân sinh là Fê-lích Bô-gu-xki, thuộc tầng lớp quý tộc
nhỏ thường gặp ở Ba Lan thời đó. Không đủ sống trên mảnh đất của mình,
ông phải làm quản lý cho các nhà quý tộc khác giàu sang và có thế lực hơn.
Trong sáu chị em, có lẽ bà giáo tính tình thăng bằng và sáng trí nhất, không
bị ảnh hưởng một kiểu Xla-vơ nào. Chẳng lập dị, không sôi nổi mà cũng
không thái quá. Tốt nghiệp xong trường phố Phrê-ta ở phố Vác-xô-vi, được
tiếp thụ một nền giáo dục ưu tú, bà quyết đi vào sư phạm, sau một thời gian
dạy học, được cử làm hiệu trưởng. Năm 1860, khi giáo sư Xkhua-đốp-xki
hỏi cưới, ông đã chọn được một người vợ hoàn toàn. Bà không có của hồi
môn nhưng là con nhà giáo, mộ đạo, hoạt bát, có một nghề nghiệp chắc chắn
và lại biết âm nhạc. Bà chơi dương cầm và hát những bài hát trữ tình thời ấy
với một giọng say sưa, tuyệt diệu.
Bà rất đẹp. Bức ảnh hồi mới cưới cho ta thấy một khuôn mặt đều đặn,
mái tóc dày óng mượt bện giản dị, đôi mắt xám có đuôi theo kiểu Ai Cập có
cái nhìn dịu hiền, huyền ảo dưới cặp mày ngài.
Một cuộc hôn nhân nghe nói là “tương xứng”. Họ nhà trai cũng thuộc
tầng lớp quý tộc nhỏ mà thảm họa của nước Ba Lan thời đó làm cho sa sút,
gốc tích ở Xkhua-đi, một vùng thôn trại cách Vác-xô-vi độ một trăm cây số.
Nhiều gia đình thông gia với nhau cùng quê quán ở Xkhua-đi đã lấy tên là
Xkhua-đốp-xki.
Nghề nghiệp tự nhiên của những hộ này là canh tác, trồng trọt. Gặp
thời tao loạn, đất đai ngày càng cằn cỗi và phân tán dần. Đến thế kỷ 18, ông
tổ trực tiếp của Vla-đi-xoáp Xkhua-đốp-xki có vài trăm mẫu ruộng, sống
phong lưu nhàn hạ, đời con hãy còn là điền chủ sung túc nhưng đến Dô-dếp,
thân sinh của ông giáo thì không thế nữa.
Muốn nâng cao thân phận bạc bẽo thấp hèn, và làm vinh dự cho cái
tên mà ông tự hào, Vla-đi-xoáp hướng về đường học vấn. Sau nhiều năm lăn
lộn với nghề mà các cuộc đảo chính và chiến tranh làm cho bi đát, ông được
bổ nhậm làm hiệu trưởng trường Nam trung học một thành phố quan trọng là
Lu-blin. Đó là người trí thức đầu tiên trong họ.
Hai gia đình Bô-gu-xki và Xkhua-đốp-xki đều đông anh em, một nhà
sáu, một nhà bảy. Nhiều người làm ruộng, đi giáo học, một người là thẩm
phán tòa án, một nữ đi tu và cũng có một vài nhân vật kì quặc. Hen-rich, một
em trai của bà giáo là tay chơi bất trị, cứ tưởng mình tài giỏi về những
chuyện phi thường, mạo hiểm. Và anh chàng Di-xoáp – em ông giáo – sống
[2]
lông bông hưởng lạc, đang là sinh viên ở Pê-téc-bua , gặp cuộc khởi nghĩa
[3]
ở Ba Lan, đã đi lính, trong thời gian lánh nạn ở Tu-lu-dơ đã từng làm thơ
bằng tiếng Prô- văng-xơ rồi trở về nước, làm quản lý văn khế ở các tỉnh,
cuộc đời cứ luôn luôn phất rồi lại mạt.
Trong hai dòng họ, những tâm hồn mơ mộng, đắm đuối ở cạnh
những tính tình điềm đạm, những hiền triết sống bên những nhà du hiệp.
Cha mẹ của Ma-ri Qui-ri là những người khôn ngoan. Vla-đi-xoáp
noi gương bố, học hết đại học ở Pê-téc-bua, trở về Vác-xô-vi dạy toán và lý.
Bà giáo mở trường nữ học có kí túc xá mà các nhà giàu sang trong thành phố
đều cho con gái đến học. Gia đình ở phố Phrê-ta trên gác, sống ở đây tám
năm trời. Mỗi buổi sáng khi thầy giáo bước chân qua cửa; nhìn ra sân, thầy
thấy các bao lơn nhẹ nhàng như những tràng hoa giăng từ cửa sổ này đến
cửa sổ nọ, thì mấy buồng phía trước đã rộn ràng tiếng cười nói của các cô
học sinh đợi giờ học đầu tiên trong ngày.
Năm 1869, ông giáo được bổ nhiệm về dạy và làm hiệu phó trường
Nam trung học phố Nô-vô-lip-xki, bà giáo phải thích nghi với sự thay đổi
này. Không thể đến chỗ ở mới do chức vụ của chồng được thu xếp, đồng
thời tiếp tục quản lý kí túc xá và chăm sóc con cho chu đáo. Bà đành nhường
lại trường tư thục, lòng rất luyến tiếc, rời phố Phrê-ta, nơi trước đây ít lâu –
ngày 7 tháng 9 năm 1867 – cô bé Ma-ni-a ra đời.
Ma-ni-a chưa hiểu nổi cái lý do khe khắt của những cử chỉ ấy và nỗi
cô quạnh mà mẹ em đang giam hãm mình vào. Bà giáo lâm bệnh nặng. Triệu
chứng lau phổi đầu tiên chớm nở ngay từ khi mới sinh Ma-ni-a cho đến nay
đã năm năm rồi, khám và chữa rất nhiều, bệnh vẫn cứ phát triển. Người đàn
bà ngoan đạo ấy rất can đảm, luôn luôn gọn gàng trong ăn mặc, bận rộn việc
nội trợ, làm ra vẻ như là mình vẫn khỏe. Nhưng bà tự ràng buộc vào một
khuôn khổ chặt chẽ: dùng thìa, bát riêng và không hôn hít các con. Mấy đứa
trẻ chỉ biết phảng phất về căn bệnh nguy hiểm của mẹ: thỉnh thoảng lại một
cơn ho khan chúng nghe thấy từ buồng bên, nét mặt rầu rĩ của ông giáo và
một câu ngắn gần đây được thêm vào đoạn cầu nguyện buổi chiều: “Cầu
chúa cho mẹ chúng ta khỏe lại”.
Người mẹ trẻ đứng dậy đẩy nhẹ bé Ma-ni-a cứ bám chặt lấy váy bà.
- Ma-ni-u-sa, cho mẹ yên nào. Mẹ bận.
- Con ở đây được không? Con đọc một tí mẹ nhé?
- Mẹ thích con ra vườn. Ngoài kia trời đẹp quá.
Cứ nói đến đọc sách thì đôi má Ma-ni-a lại ửng hồng. Năm ngoái,
Brô-ni-a ở thôn quê học chữ cái một mình thấy chán mới rủ bé chơi làm “cô
giáo, học trò”. Trong mấy tuần, hai chị em xếp các chữ bằng bìa cắt, đặt lộn
xộn. Rồi một buổi sáng, trong khi Brô-ni-a ê a đánh vần một bài rất dễ cho
bố mẹ nghe, Ma-ni-a sốt ruột giằng lấy sách đọc một mạch hết câu đầu. Mới
đầu nó thấy thích thú vì mọi người lắng nghe nên cứ kéo dài cái trò say sưa
ấy. Nhưng bỗng nó thấy sợ hãi. Sự kinh ngạc lộ trên mặt ông bà Xkhua-đốpxki, còn Brô-ni-a thì nhăn nhó, phụng phịu. Nó bập bẹ vài câu lí nhí rồi bật
tiếng khóc không nén được. Đứa trẻ xuất chúng giờ đây chỉ còn là một em bé
bốn tuổi, đang nức nở, và nhắc đi nhắc lại rất thiểu não:
- Con xin lỗi… con không cố ý, chẳng phải lỗi con… chẳng phải tội
của Brô-ni-a. Tại là dễ quá.
Tâm hồn trẻ thơ của nó chợt hiểu ra rằng có lẽ không bao giờ được
tha tội vì đã tập đọc sớm thế.
Từ buổi sáng đáng ghi nhớ ấy, Ma-ni-a làm quen dần với các mặt
chữ, và nếu không tiến bộ rõ rệt, đó là tại cha mẹ không bao giờ để em cầm
đến quyển sách. Là những nhà sư phạm thận trọng, ông bà Xkhua-đốp-xki
không muốn con học quá sớm; mỗi khi đứa bé giơ tay muốn lấy một trong
những tập tranh có chữ to để quanh trong nhà thì lại được gợi ý: “Con chơi
xếp gỗ nhá! Búp bê của con đâu rồi? Con hát cho mẹ nghe nào!”. Và như
hôm nay: “Mẹ thích con ra vườn hơn”.
- Con đi tìm chị Dô-sa vậy
- Cũng được.
- Dô-sa!
Qua cái sân nhỏ hẹp nơi hằng ngày chúng vẫn chơi “đuổi bắt” và “bịt
mắt bắt dê”, hai chị em cầm tay nhau đi dọc theo trường trung học, đến một
cái vườn lớn, cửa gỗ mọt ọp ẹp. Giữa bốn bức tường, những thảm cỏ lưa
thưa, những cây cao tù hãm thoảng một mùi đất, một hương vị đồng nội.
- Chị Dô-sa ơi! Bao giờ lại đi Dơ-vô-la đây?
- Sau tháng bảy mới đi cơ. Em còn nhớ Dơ-vô-la à?
Ma-ni-a có một trí nhớ lạ lùng, không quên cái gì hết. Cái thác nước
mùa hè năm ngoái mấy chị em bì bõm hàng giờ, mò đất nặn “những bánh xà
phòng” rồi đem phơi nắng trên một tấm ván ở một chỗ chỉ có chúng biết mà
thôi, đứa nào đứa nấy váy và yếm bùn bê bết. Bảy tám đứa trẻ rủ nhau trèo
lên cây chè già, đem theo cả cô bé có đôi tay quá yếu, đôi chân ngắn ngủn.
Họ lấy những lá cải vừa lạnh vừa giòn, phủ lên những cành to và gói trong
những lá cải khác, nào là quả dâu tây, củ cà rốt non mơn mởn, quả anh đào,
để giấu trong hốc tường cho tươi. Lại nhớ đến làng Mác-ki nữa, cái kho lúa
nóng khiếp, Dô-dếp vẫn đến học cửu chương, chúng chơi vùi Ma-ni-a dưới
đống lúa. Còn bác Xkri-pốp-xki mỗi lần đánh xe ngựa qua, hay quất cái roi
da nghe đến là vui! À, còn đàn ngựa của chú Xa-vi-ê nữa!
Bọn trẻ tỉnh thành ấy thường có những ngày hè say sưa như vậy. Họ
hàng đông chỉ một nhánh ra ở thành phố. Tỉnh nào cũng có hai dòng họ
Xkhua-đốp-xki và Bô-gu-xki làm ruộng, nhà cửa ở thôn quê tuy không rộng
rãi lắm, nhưng cũng có đủ buồng để đón ông giáo cùng gia đình về nghỉ mát.
Do đó mặc dù hoàn cảnh bố mẹ không lấy gì làm phong lưu lắm, Ma-ni-a
chưa hề biết đến những nhà trọ tầm thường tại những nơi nghỉ mát bình dân
ở Vác-xô-vi. Và cứ mùa hè, cô bé gia đình trí thức ấy lại trở thành một em
gái thôn quê thật sự, đúng với bản chất sâu xa của dòng họ.
- Chúng mình chạy thi nào… chị cuộc là sẽ đến cuối vườn trước Mani-a đấy. – Dô-sa vui vẻ thốt lên với giọng chững chạc của một chị cả.
- Em chả muốn chạy đâu. Em muốn nghe kể chuyện cơ.
Không ai biết kể chuyện như Dô-sa, cả ông giáo và bà giáo, trí tưởng
tượng của cô thêm thắt nhiều chi tiết li kì vào những giai thoại, những
chuyện thần tiên như những khúc biến tấu tài tình của một người chơi đàn rất
giỏi. Dô-sa còn tự nghĩ ra những đoạn hát kịch ngắn và đóng rất sôi nổi
trước con mắt ngạc nhiên của các em. Chúng hoàn toàn bị chinh phục bởi tài
tác giả và nghệ sĩ. Ma-ni-a lúc thì cười ngặt nghẽo, khi thì run bắn lên khi
nghe những chuyện hoang đường quái đản mà tuổi lên năm của nó khó mà
theo dõi liên tục.
Hai chị em quay về nhà. Càng đến gần trường, Dô-sa càng hạ giọng,
và tự kiềm chế. Câu chuyện còn đang nghĩ và kể dở, cô bỗng dừng lại. Đi
qua gian nhà phía tay phải có cửa sổ treo rèm cứng, hai đứa bé im bặt.
Sau những rèm cửa ấy, có một con người mà gia đình ông giáo rất
ghét mà cũng rất sợ, đó là viên hiệu trưởng I-van-nốp, đại diện của chính
phủ Sa hoàng trong trường này.
*
* *
Năm 1872. Còn ai khổ nhục bằng người dân Ba Lan “thuộc Nga” ở
vào hàng ngũ trí thức đa cảm, mà thần kinh đã căng thẳng, và đầu óc cách
mạng đang âm ỉ, họ cay đắng, nhức nhối hơn mọi tầng lớp khác vì ách đô hộ
đè nặng trên đầu.
Đúng một thế kỷ rồi, những vua chúa tàn bạo, lân bang đáng sợ của
một nước Ba Lan suy nhược đã quyết định bóp chết nước này. Đức, Nga, Áo
đã ba lần chia đi cắt lại mảnh đất đau thương đó. Người dân Ba Lan đã đứng
lên chống lại bọn đô hộ. Mỗi lần thất bại, cái thòng lọng buộc vào cổ họ lại
càng thắt chặt. Sau khi cuộc đảo chính oanh liệt năm 1831 không thành, Sa
hoàng Ni-cô-lai I đã ra lệnh trừng trị khốc liệt: hàng loạt người yêu nước bị
tù đày, tịch thu tài sản.
Năm 1863, lại một lần dấy lên, lại một lần bị dìm trong máu. Nghĩa
quân chỉ có đinh ba, lưỡi liềm và gậy gộc chống với súng đạn của Sa hoàng.
Mười tám tháng chiến đấu thất bại, ngoài thành quách Vác-xô-vi dựng lên
năm giá treo cổ, thây bao người yêu nước vật vờ trước gió.
Sau thảm họa đó, bọn thống trị tìm mọi cách khuất phục nước Ba Lan
không cam tâm chịu chết. Từng đoàn tù chính trị tay cùm chân xích bị áp
giải đi Xi-bê-ri, đến những nơi quanh năm phủ tuyết. Hàng loạt người khác
kéo vào Ba Lan để Nga hóa vùng này. Đó là những cảnh sát, giáo sư, viên
chức, mà nhiệm vụ là do thám dân Ba Lan, khủng bố tôn giáo của họ, cấm
đoán sách báo tiến bộ, dần dần xóa bỏ tiếng nói của nước này, tóm lại, tiêu
diệt linh hồn một dân tộc.
Những cuộc đề kháng được tổ chức ngay ở hàng ngũ bên kia. Kinh
nghiệm xương máu cho người Ba Lan thấy rõ ràng lúc đó, thời cơ chưa đến
để giành lại tự do bằng vũ lực. Họ buộc lòng phải đợi và chống lại những
nguy cơ của sự chờ đợi là nhu nhược và chán nản.
Thế là cuộc chiến đấu thay đổi trận địa. Những anh hùng giờ đây
không còn là những chiến sĩ chỉ có liềm hái trong tay xông vào đám quân
Cô-dắc và ngã xuống, miệng hô như nhân vật Lu-i Mác-buyt nổi tiếng:
“Sung sướng thay được chết cho Tổ quốc ta!” mà là những trí thức, những
nghệ sĩ, nhà tu hành, thầy giáo – những người quyết định tinh thần của thế hệ
mới. Sự dũng cảm của họ là cố nén lòng, giấu những ý nghĩ tình cảm của
mình, chịu nhẫn nhục bám lấy những vị trí mà Sa hoàng còn thí cho họ để từ
đó, có thể bí mật đào tạo lớp trẻ, hướng dẫn đồng bào.
Thế là trong mỗi trường trung học ở Ba Lan, thường có mâu thuẫn
sâu sắc giữa những người chiến bại và những kẻ chiến thắng, những giáo sư
bị chèn ép và những hiệu trưởng do thám, những Xkhua-đốp-xki và những Iva-nốp, dưới bề mặt lịch thiệp giả tạo.
Đặc biệt đáng ghét là tên I-va-nốp. Hắn không một chút thương xót
những người làm việc dưới quyền bị bắt buộc phải dạy trẻ nước mình bằng
tiếng Nga. Đương ngọt ngào, đường mật, hắn có thể trở mặt ngay, văng tục
cục cằn, thô lỗ. Tuy dốt đặc cán mai, hắn vẫn soi mói xem lại bài làm của
các học sinh ngoại trú để bới tìm “những cách nói Ba Lan”. Giữa I-va-nốp và
ông Xkhua-đốp-xki quan hệ trở nên lạnh nhạt như băng giá kể từ ngày ông
giáo, muốn bênh vực học trò, đã bình tĩnh nói thẳng vào mặt hắn: “Thưa ông
I-va-nốp, em bé này chẳng qua chỉ sơ ý nên mới viết lỗi. Bản thân ông còn
có thể viết tiếng Nga sai, và rất nhiều lần nữa là khác. Tôi chắc rằng cũng
như những họ...
 





